A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

THÀNH PHỦ - Ths Nguyễn Văn Hiếu

Thành Phủ là thủ phủ của Phủ Thuận An (Gọi là Phủ Thuận). Phủ Thuận bao gồm Siêu Loại, Lương Tài, Gia Bình, Văn Lâm, Gia Lâm. Phủ Thuận được lập. Phủ thời Lê ở trấn Kinh Bắc; đời Mạc, phủ được cắt về trấn Hải Dương gọi là Dương Kinh. Sau nhà Lê Trung Hưng đổi lại thuộc trấn Kinh Bắc. Phủ Thuận An gồm 5 huyện: Gia Lâm (Hà Nội), Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh), Văn Giang, Văn Lâm (Hưng Yên), Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh).Vùng đất của phủ Thuận An xưa nay tương đương...

THÀNH PHỦ - Ths Nguyễn Văn Hiếu

                   Thành Phủ là thủ phủ của Phủ Thuận An (Gọi là Phủ Thuận). Phủ Thuận bao gồm Siêu Loại, Lương Tài, Gia Bình, Văn Lâm, Gia Lâm. Phủ Thuận được lập. Phủ thời Lê ở trấn Kinh Bắc; đời Mạc, phủ được cắt về trấn Hải Dương gọi là Dương Kinh. Sau nhà Lê Trung Hưng đổi lại thuộc trấn Kinh Bắc. Phủ Thuận An gồm 5 huyện: Gia Lâm (Hà Nội), Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh), Văn Giang, Văn Lâm (Hưng Yên), Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh).Vùng đất của phủ Thuận An xưa nay tương đương với vùng giáp ranh giữa thành phố Hà Nội với tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên.
                   Phủ Thuận An có sông Thiên Đức vòng quanh 5 huyện, núi Thiên Thai là nơi phong cảnh đẹp, có chùa Pháp Vân (Chùa Dâu), chùa Đại Bi (Chùa Nôm), đền Lệ Mật... Việc cấy lúa, trồng dâu đều tốt. Về phủ Thuận An, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí nhận xét: Kinh Bắc có “mạch núi cao vót, nhiều sông quay vòng, là mạn trên của nước ta. Phong cảnh thì phủ Bắc Hà, phủ Lạng Giang đẹp hơn. Văn học thì phủ Từ Sơn, phủ Thuận An nhiều hơn. Mạch đất tốt tụ vào đấy nên sinh ra nhiều danh thần”. 
Tôi sinh ra ở làng cạnh Thành Phủ cúa phủ Thuận An. Tuổi thơ tôi gắn với Thành Phủ vì thành bao bọc cả hai trường cấp 1 và cấp 2 Ninh Xá, huyện Thuận Thành của tôi thời đó. Khi chúng tôi lớn lên, một phần thành đã được chuyển làm kho lương thực của cả vùng thời bao cấp: Kho lương thực Thuận Đức. Một phần của thành được xây dựng hai trường học: trường cấp 1 Ninh Xá và trường cấp 2 Ninh Xá. Một phần của thành là trụ sở UBND xã. Cạnh thành phủ cũng là nơi mà Bệnh viện huyện đã về sơ tán thời chiến tranh. Rồi thì Trung tâm điều dưỡng Thương binh Trung ương cũng về và giờ vẫn đóng ở đây. (Chúng tôi vẫn gọi là Trại Thương binh Phủ). Những năm xưa, cứ chiều là quét dọn sân thềm, chăn lợn, nấu cơm thật nhanh. Cơm xong là đi bộ lên Trại Thương binh Phủ để chờ xem mấy bộ phim trong đó nhớ nhất là bộ phim hoạt hình “Hãy đợi đấy” và bộ phim phản gián nổi tiếng một thời “Trên từng cây số” của Bungari qua màn Tivi đen trắng hiếm có thời ấy. Hai nhân vật chính diện tôi nhớ nhất là Thiếu tá Đi -a-nốp và Đại úy Bôm- bốp. Đã có lần thằng bạn thân giả làm Bôm - bốp đá một phát trúng bụng, đau điếng không khóc được, chỉ vãi nước mắt.
                Cạnh Thành Phủ có một cây đa mà có lẽ tuổi đời của nó phải 400-500 năm, tán xòa che mát một vùng. Hồi cấp 1, có thời gian học cạnh đó, mười đứa trẻ như bọn tôi chui lọt thỏm trong bộ rễ của cây. Vì cứ lẩm nhẩm “Thần cây đa, ma cây gạo” nên ít đứa dám chui vào một mình, chỉ khi nào có đồng bọn hoặc giả chơi trốn tìm mới dám chui vào trong thân cây. Cây đa này đã chứng kiến bao thăng trầm của con người và cuộc sống nơi đây. Bây giờ, cây đa vẫn còn và người ta đã ghi nhận cây đa này là “cây di sản”. 
                 Thành Phủ có kết cấu chung của thành lũy thời chiến: trong thành ngoài hào. Thành phủ Thuận có từ lâu nhưng được đắp đất năm 1830 (Thời nhà Nguyễn), chu vi 271 trượng 2 thước (mỗi trượng bằng 4,7 mét, vậy là chu vi khoảng 1.275 m), cao 7 thước 2 tấc (Chừng 3,5 m), 4 mặt có hào, 3 cửa xây bằng gạch. Mặt thành chừng 2-3 mét. Ngoài thành là hào. Hào bao quanh thành như con sông nhỏ. Hào rộng ước chừng 30 m, rất sâu. Sức vóc chúng tôi hồi cấp hai dù biết bơi nhưng ít đứa dám vượt hào. Ngày đó đến trường là vào Thành Phủ. Những hôm trốn học ra ngoài thành chơi, chỉ cách nhau một đoạn mà đã có hẳn một thế giới khác: thế giới thần tiên trong tâm hồn trẻ thơ. Gần trường có nhà bà cụ mà chúng tôi không biết tên nên vẫn gọi theo tên anh con trai là Bà Cường Tàu (Bà có chồng người Hoa). Nhà bà cụ có cây trứng gà (Lê ki ma theo cách gọi của người Nam bộ). Bây giờ cứ nghĩ không biết vì sao lại có cây đó vì cả vùng chả nhà nào có nên cũng chả biết thế nào là chín. Cây của bà cụ trồng, quả sai trĩu cành, cây sum suê, tán sà sát đất. Nhìn những quả trứng gà đốm vàng mà chả còn tâm trí nào học. Mấy chú học trò lớn vốn học ít, chơi nhiều quyết phải thủ cho bằng được. Vậy là ở trên cô giáo vẫn giảng bài còn ở dưới chỉ chờ cô quay lên là lủi ra theo đường cửa sổ (Gọi là sửa sổ nhưng không còn cánh và bung luôn cả mấy hàng gạch xây bằng đất trộn ít vôi. Thường ngày, đây vẫn là cửa ra vào theo kiểu nhảy ngựa của lũ chúng tôi) vặt trộm chục quả trứng gà, đợi lúc ra chơi sẽ leo lên thành, đào một hố chôn vào đó, dâm đợi chín. Nhưng đợi mãi mà nào có chín, mấy hôm sau mở ra, có vàng hơn chút nhưng không thể ăn được, chát xin xít. Hồi đó chúng tôi vẫn nói theo kiểu vần “Chát xin xít như đít bà già”, nhưng đít bà già ai thử mà biết chát. Thành thử, nhìn mồm thằng nào cũng dính nhựa đen, phá lên cười. 
                 Ngày ấy, mùa đông trời rất rét, có lẽ vì đói và ít áo. Trên đường đi học, thỉnh thoảng đi học sớm, đào trộm được ít khoai lang của hợp tác xã. Đến trường chưa vội vào, có sẵn que, khoét một cái lò có một lỗ dưới và một lỗ trên men theo thành đất, nhóm lửa bằng lá phi lao, bạch đàn, bẻ củi khô cho vào. Gió bắc thổi, mấy cái mồm háu đói chụm vào thổi, mấy quyển vở thành quạt lò, lò hồng rực, bỏ mấy củ khoai vào, một lúc sau lấy ra, vừa bóc, ăn, thổi. Ngon tuyệt! Quên cả vào học. Trống đánh một lúc lâu, chạy vội vào lớp bị cô giáo phạt đứng cửa cả buổi. Nhớ đời!
                Thành Phủ còn là nơi chúng tôi chơi trốn tìm. Trốn ở đó thì thôi rồi, có mà trời tìm. Đi trên mặt thành mà cứ tưởng hành quân ra trận vì trên mặt thành trồng khá nhiều bạch đàn và phi lao. Cỏ cây dại mọc um tùm. Cái năm có phong trào đào “Ao cá Bác Hồ”, bọn tôi cũng được lao động vét cái ao nhỏ trong thành để thả cá mà rồi chả thấy con cá nào. Chỉ có chân tôi giờ vẫn còn sẹo vì mảnh sành vỡ. Lắm lúc cứ nghĩ chả để ý chứ đó biết đâu là mảnh bát cổ. Ký ức trẻ thơ thật đẹp!
             Thành Phủ là trung tâm của Phủ Thuận An nằm trên đất Siêu Loại xưa (Thuận Thành nay). Tại sao nơi đây lại trở thành phủ lỵ, đó là một câu hỏi khó tìm câu trả lời. Nhưng chỉ biết rằng phủ lỵ này là trung tâm của Phủ Thuận An. Đường đi lại đến các huyện trong phủ và ra trung tâm Thăng Long khá thuận tiện. Một phần của Phủ Thuận An giờ đã là Hà Nội. Phủ lỵ là vùng đất khá cao, có kết cấu địa lý của đồi thấp, phần trên có lượt đất màu, chỉ đào khoảng già nửa mét là đến lượt sỏi đá ong. Vì vậy nước ở đây có mạch của “nước Chẹm” mà dân trong vùng từng đúc kết “Cơm Vàng, nước Chẹm, cá Quán Ghen”. Cơm Vàng là cơm vùng phố Vàng xã Nghĩa Đạo. Vùng này có đất phù sa cổ, nhiều lúa gạo, hạt gạo chắc, cơm rất ngon. Cá rô ở Quán Ghen (Lạc Thổ), thuộc khu trũng của làng, mùa tháng chín lúa trỗ, màu phơi rơi xuống nước, cá đớp được màu rơi vì thế mà béo vàng. Lại được bàn tay khéo léo của cô bán quán ăn làng Lạc Thổ chế biến nên thành món ngon nức tiếng. Còn nước vùng Chẹm thì là nhất. Ở đây có nguồn nước rất đặc biệt. Xưa chỉ cần đào giếng khơi 3 mét đến 3,5 mét là gặp mạch dọc. Thợ đào phải thủ sẵn cái thang mới lên kịp. Nếu chậm, nước lên một lúc là ngập đầu, phải bơi trong giếng. Nước rất trong và ngọt như nước mưa, dùng từ đời này đến đời khác vẫn không hết nước. Ngày mùa, mấy bà xã viên hợp tác xã múc nước uống ngay tại giếng khơi như ta uống nước khoáng bây giờ, mát lịm, ngọt thỉu mà chả thấy làm sao. Và cũng bởi có nguồn nước ấy mà con gái vùng này thường có nước da trắng mịn, đẹp nức tiếng khiến bao trai trong vùng mê đắm. Phố Phủ cũng nằm trong vùng mưa thuận, gió hòa, quanh năm rất ít bão, lũ của miền Kinh Bắc. Vì là vùng đất cao nên trận lụt năm 1971, vỡ đê Kênh Than (Gia Lương thời đó), nước không vào đến phủ. Có lẽ vì những yếu tố đó mà Thành Phủ xưa đã được kỳ công chọn lựa là phủ lỵ.
                Ngày nay, dân quanh thành Phủ, vốn là con cháu của các thơ lại, lính lệ, những người buôn bán quanh phủ, đã lập thành làng gọi là làng Phủ. Vì là làng mới vài chục năm nay nên hiện làng vẫn chưa có chùa, dân trong làng đa phần vẫn sang cúng Phật tại chùa Tùng Lâm Tự (Trạm Trai). Người Phủ mang phong cách “phố” và tâm thế của người tài các nơi tụ về nên họ năng động và khoáng đạt, nghĩ nhanh, nói thẳng và chẳng bao giờ câu nệ về hình thức. Họ rất tự nhiên và chủ động trong giao tiếp, ứng xử.
               Thành Phủ giờ không còn nữa. Có thời người ta coi thành là dấu tích của thời phong kiến nên phá. Những năm chín mươi của thế kỉ trước, người ta phá thành để lấy đất đóng gạch. Rồi thì thành chả của ai, người ta chiếm dụng, khai hoang. Rồi thì xã cấp đất cho các hộ làm nhà sau khi thành đã bị bình địa. Âu đó cũng là cách mà chúng ta từng ứng xử với các di tích lịch sử và văn hóa của cha ông mình. Nhưng với thành Phủ, một kiểu thành đất, giờ khôi phục lại là không thể. Lắm lúc cứ nghĩ, còn thành Phủ thì biết đâu nơi đây sẽ là một điểm du lịch nổi tiếng trong hành trình du lịch về miền Kinh Bắc mà khi về đây, du khách phải “đặt bàn chân thật khẽ” vì “sợ chạm” đến các di tích lịch sử dày đặc. Thật tiếc!

                                                                                                                        Thuận Thành, mùa Xuân, tháng Giêng năm Kỷ Hợi

Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu - Hiệu trưởng

Nguồn: thptthuanthanh1.bacninh.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Chính phủ điện tử
Video
Bản đồ vị trí
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 373
Hôm qua : 298
Tháng 08 : 14.485
Tháng trước : 17.058
Năm 2019 : 84.291
Năm trước : 0
Tổng số : 84.291